Thứ Bảy, 1 tháng 8, 2009

ước mơ tuổi trẻ

Đối với tôi, nói chuyện với lứa tuổi thanh niên là điều thú vị vì bao giờ họ cũng có quan niệm mới mẻ, ngay thẳng và thành thật.
Vả lại tôi luôn muốn có dịp san sẻ kinh nghiệm của bản thân mình. Ngay cả ngày hôm nay tôi vẫn nhớ như in là khi còn trẻ tôi rất tôn trọng những buổi nói chuyện với người lớn tuổi và thật may mắn cho tôi đã nhận được rất nhiều lời khuyên thông thái. Tôi khắc sâu những lời khuyên ấy và nhờ thế tôi tránh được nhiều lỗi lầm sơ sót.
Tôi nhận thấy rằng ngày nay, phần nhiều lớp trẻ đắm mình vào những chuyện tầm thường, khả năng cùng tài trí không được nuôi dưỡng vun trồng một cách thích hợp. Và hình như là khi đã dư thừa vật chất thì nền giáo dục ngoài xã hội và giáo dục đạo đức trong gia đình gặp phải muôn vàn khó khăn. Vả lại nuôi dưỡng vun trồng người có đầu óc sáng tạo trở nên khó thấy. Những điều này rất đúng ở Việt Nam . Hiện nay có thể thấy những vấn đề tương tự đối với thanh niên nhiều nước.
Ngày nay tôi cũng lo lắng về một số bạn trẻ có khuynh hướng xem thường người lớn tuổi, nhưng điều đáng tiếc hơn nữa là những người có nhiều kinh nghiệm từng trải lại ngần ngừ không muốn truyền đạt những gì mình biết cho thế hệ trẻ.
Dẫu rằng thế giới tràn ngập vô vàn cuốn sách về ý thức hệ tạo nên nền văn minh những kinh nghiệm bản thân con người, vốn dĩ là nền tảng cho những ý thức hệ ấy lại không được cung cấp sẵn cho thanh niên.

Dường như thế giới là của tôi và tôi có thể bao trùm vũ trụ trong cánh tay của mình. Đối với tôi dường như không có gì là không thể làm được. Dẫu rằng nghèo, nhưng cái cảm giác ấy giúp tôi tiếp tục học tập. Sinh lực của tuổi thanh niên là rất quan trọng đối với tôi và làm tràn ngập trái tim tôi bằng những ước mơ. Không có gì có thể ngăn cản tôi.
Trong số những điều mà tuổi trẻ mang lại thì ước mơ là điều quan trọng nhất. Những người biết ước mơ thì không biết nghèo khó vì mỗi người đều giàu có như chính ước mơ của mình vậy. Tuổi trẻ ước mơ rộng lớn như trời biển, dẫu bạn không có gì trong tay cả thì cũng không có gì phải ganh tị nếu có được những ước mơ.
Lịch sử thuộc về những người biết ước mơ : Ước mơ là động lực làm thay đổi thế giới. Những người có ước mơ, những xã hội làm cho ước mơ trở thành hiện thực và đất nước biết chia sẻ ước mơ và tất cả mọi người có thể trở thành bậc anh hùng trong lịch sử thế giới. Tôi cam đoan rằng tất cả những người đang làm nên lịch sử thế giới ngày hôm nay đều có những ước mơ lớn khi còn trẻ.
Có quốc gia nào mà không truyền hy vọng và ước mơ cho tuổi trẻ mà tuổi trẻ lại có được sức mạnh để lãnh đạo thế giới hay không? Nước Mỹ với lịch sử hơn 200 năm đã tạo lập thế đứng trong lịch sử thế giới hôm nay. Và cũng như chúng ta biết chính những ước mơ vĩ đại của những bậc tiên phong ban đầu với tinh thần tiên phong đã đưa lại sức mạnh cho sự phát triển.
Nhưng ngày nay tôi thường nghe nói là tuổi trẻ không còn có những ước mơ vì tương lai hay là họ có ước mơ xoáy vào hiện tại bây giờ. Nếu quả thật như vậy thì không có gì buồn hơn, không những chỉ buồn cho từng cá nhân mà còn buồn cho cả dân tộc.
Ước mơ thường tạo nên con người. Uớc mơ có thể điều khiển cả tính công việc và ngay cả hôm nay, ước mơ giống như bánh lái của con thuyền. Bánh lái có thể nhỏ và không thấy được nhưng nó điều khiển hướng đi của con tàu. Cuộc đời không có ước mơ giống như con tàu không có bánh lái. Cũng như con tàu không có bánh lái người không có ước mơ sẽ mất hướng đi và sẽ trôi dạt lững lờ cho tới khi bị mắc kẹt trong đám rong biển.
Con người có ước mơ sai trái thì cũng nguy hiểm như là người không có ước mơ. Một người mà ước mơ không vượt qua sự tiện nghi cá nhân trong hiện tại thì cũng đáng thương như là người không có ước mơ gì cả : Anh ta không nhận thức được giá trị lớn lao nhất của tuổi thanh niên. Nếu bạn có ước mơ, hy vọng rằng bạn phải có thì hãy nâng niu nó, vì ước mơ của bạn là bánh lái sẽ quyết đinh hướng đi cho cuộc đời.
Tuổi trẻ không có ước mơ thì không phải là tuổi trẻ. Ước mơ là điều tối quan trọng cho tuổi trẻ. Tuổi trẻ chính là ước mơ và lịch sử thuộc về những người biết ước mơ.

Nước mắt phụ nữ

Một cậu bé hỏi mẹ:
- Tại sao mẹ lại khóc?
Người mẹ đáp:
- Vì mẹ là một phụ nữ.
- Con không hiểu - Cậu bé thốt lên.
Người mẹ ôm chặt con và âu yếm:
- Con không bao giờ hiểu được, nhưng nó là như thế đấy...
Thời gian trôi đi, cậu bé lại hỏi cha:
- Tại sao mẹ lại khóc hở cha?
- Tất cả phụ nữ đều như thế, con yêu ạ - người cha mỉm cười đáp.
Cậu bé lớn dần lên và khi trở thành một người đàn ông, anh vẫn thường tự hỏi: "Tại sao phụ nữ lại khóc?".
Cuối cùng anh tìm đến một nhà hiền triết. Nghe hỏi, nhà hiền triết ôn tồn nói: "Khi Thượng đế tạo ra người phụ nữ, người phải làm cho họ thật đặc sắc. Người làm cho đôi bờ vai họ cứng cáp để che chở được cả thế giới, đôi tay họ mát lành để che chở sự yêu thương, và người cho họ một sức mạnh tiềm ẩn để mang nặng đẻ đau.
Người cho họ một sự dũng cảm để nuôi dưỡng và chăm sóc gia đình, người thân, bạn bè ngay cả những lúc mọi người dường như buông trôi, và dù có nhọc nhằn đến mấy đi nữa họ không bao giờ than thở... Người cho họ tình cảm để họ yêu thương con cái ở mọi nghĩa trên đời, ngay cả những lúc con cái họ gây cho họ đau khổ.
Người cho họ sức mạnh để chăm sóc người chồng của họ, tránh vấp ngã vì người tạo dựng họ từ những xương sườn của người đàn ông để bảo vệ trái tim anh ta... Người cho họ sự khôn ngoan để biết rằng một người chồng tốt sẽ không bao giờ làm tổn thương vợ mình, hiểu rõ sự chịu đựng của người phụ nữ và cô ta luôn thấp thoáng sau mỗi thành công của người chồng.
Để làm được những việc nhọc nhằn đó, người cũng đã cho họ giọt nước mắt để rơi, để họ sử dụng bất cứ lúc nào và đấy là điểm yếu duy nhất của họ. Khi con thấy họ khóc, hãy nói với họ con yêu họ biết bao và nếu họ vẫn khóc, con hãy làm trái tim họ được bình yên".

Thứ Sáu, 31 tháng 7, 2009

Cái sự "bỏ thuốc lá"

Biết hút thuốc lá là không tốt, nhưng bỏ được thuốc lá là việc khó với nhiều người. Lâu nay việc hút thuốc trở nên phiền hà, khi trong công sở lúc ngoài sân bay bến cảng, nơi công cộng... và nhất là những khi có dịp đi du lịch nước ngoài. Ở nhiều nơi, có những lúc thèm thuốc không kiếm ra chỗ hút hoặc hút được điếu thuốc cứ như đi ăn trộm.
Một tối nghỉ ngơi nằm nhà coi ti vi bỗng thấy một tin quảng cáo, nhà đài trung ương hẳn hoi, đại khái nội dung lập tức bạn muốn bỏ thuốc lá ư, dễ lắm, hãy soạn tin nhắn BTL gởi 6754. Nhiều người bỏ thuốc hẳn được, chỉ còn vài ba người bảo thủ và không sợ mất lịch sự như tôi là chưa bỏ được, nay có người ta chỉ cho mình cách bỏ thuốc lá lập tức kìa, quá mừng. Nhắn tin liền. Tất nhiên chỉ sau một phút đồng hồ nhận lại tin nhắn. Nội dung thế này: "Khi chỉ còn hút ba bốn điếu một ngày là bạn có thể ngưng hẳn hút. Hãy chọn giờ G để bỏ hẳn".
Ghi chú: giờ G là giờ phải hút 3 điếu liền.
Nếu thế này thì bỏ thuốc quá dễ...

Lại nói về "Sự trung thực"

Albert Einstein đã cảnh báo rằng nếu không suy nghĩ độc lập thì người ta có thể trở thành một cái máy khả dụng, nhưng không thể trở thành một con người với đầy đủ phẩm giá. Thế nên, suy cho cùng, nếu sống trung thực thì ta sẽ được là …ta. Thế thôi, ta sẽ là một con người có tư duy độc lập với đầy đủ phẩm giá.
Thế nhưng bạn sẽ hỏi, làm sao để bạn biết suy nghĩ độc lập và biết sống trung thực?
Câu hỏi đó liên quan đến vai trò của giáo dục.
Vai trò của giáo dục ở đâu khi đối diện với những con số nhức nhói sau: 89% sinh viên từng sử dụng tài liệu trong phòng thi, 85% từng quay cóp, 42% sao chép luận văn, đồ án, 36% từng xin hoặc mua điểm (theo một khảo sát, điều tra của Bộ Giáo dục – Đào tạo trên 1.827 sinh viên ).
Giáo dục sai ở đâu?
Câu trả lời của tôi đối với câu hỏi trên là: Giáo dục sai ở chỗ đã giả thuyết rằng chỉ có một đáp án đúng cho mọi vấn đề.
Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế. “Cãi thầy thì núi đè” vì thầy luôn luôn đúng.
Lớn lên khi đi thi đại học thì học sinh được đưa vào “lò luyện thi” để học nằm lòng cách giải toán hay cách làm văn theo mẫu.
Học sinh từ nhỏ thường được dạy là chỉ có một đáp án đúng, hoặc ở trong sách giáo khoa, hoặc do thầy nói thế thì phải thế.
Nhiều người đọc đến đây có lẽ sẽ than: Biết rồi khổ lắm nói mãi.
Tuy nhiên, mục đích của tôi không phải là tường trình hậu quả của cách giáo dục tư duy một chiều. Những con số điều tra nêu trên đã phần nào phản ánh hiện trạng tiêu cực trong giáo dục hiện nay. Bên cạnh đó có lẽ đã có nhiều bài viết về gian lận trong thi cử.
Bài viết này nhằm đặt lại vấn đề đối với giả thuyết ban đầu của cách giáo dục tư duy một chiều: chỉ có một đáp án đúng trong mọi vấn đề.
Liệu có luôn có một đáp án đúng chăng?
Nếu có thì có lẽ học sinh không cần phải suy nghĩ nhiều nữa. Họ chỉ cần học theo đáp án của sách giáo khoa, của giáo sư, v.v.
Nếu không thì học sinh Việt Nam đang bị “ép” phải suy nghĩ một chiều. Họ không có sự lựa chọn nào khác. Bất chợt tôi nhớ tới lời than của Chí Phèo: “Tôi muốn lương thiện, ai cho tôi lương thiện?”
Giả sử nếu có hai cách nghĩ về một vấn đề và cô học sinh A muốn chọn cách nghĩ B. Tuy nhiên đáp án của ngành giáo dục là A. Trong trường hợp đó, có lẽ cô học sinh ấy sẽ than, tôi muốn trung thực, ai cho tôi trung thực?

Sự Trung thực

Sự trung thực có thể được định nghĩa đơn giản là 'không nói dối'.
Đúng vậy, chúng ta vẫn thường cho rằng chữ trung thực luôn được đề cập trong mối quan hệ giữa người với người. Trung thực trong kinh doanh nghĩa là không bán hàng gian hàng dở, không quịt nợ. Trung thực trong thi cử là không được sử dụng tài liệu, không được quay cóp.
Tuy nhiên, trong bài viết này, tôi muốn đề cập đến chữ trung thực hướng nội hơn một chút, đó là trung thực trong mối quan hệ giữa ta và bản thân.
Ai trong chúng ta đều đã phạm sai lầm. Sai lầm dù là lớn hay nhỏ, một mình ta biết hay rất nhiều người biết, thì cũng nên được nhìn nhận một cách trung thực. Chúng ta chẳng cần phải lớn tiếng nói về sai lầm của mình với người xung quanh, vì chẳng ai muốn 'vạch áo cho người xem lưng cả'. Nhưng đối với bản thân, thì chúng ta cần nên trung thực mà đối diện với nó. Phật giáo dạy rằng chỉ khi ta trung thực để biết mình không hoàn hảo và mắc sai phạm, thì lúc đó ta mới sửa được mình mà trở nên hoàn hảo. Sự hoàn hảo là cái 'được' khi ta sống trung thực.
Ở xã hội ta hiện nay, lắm người chưng diện nhưng thực sự trong túi lại không có một đồng xu. Cũng có lắm kẻ phô trương sựhiểu biết, nhưng thực chất chẳng biết tí gì. Thông thường, sau những sự khoa trương đó, họ chỉ được những lời xu nịnh giả dối, hoặc sự ghen ghét dè biểu của người xung quanh. Cuối cùng, mỗi ngày, họ cũng chẳng hạnh phúc được hơn khi phải đối diện với thực tế phủ phàng của họ.
Khi sống trung thực với bản thân, ta không cần phải khua môi múa mép, ta thấy thanh thản vì ít bon chen. Trung thực với chính mình, là trung thực với người khác, ta lại nhận được sự chân thành và cảm thông. Và vì vậy ta có được hạnh phúc.
Tuy nhiên, nói thì có vẻ dễ dàng, nhưng thực tế trước mắt thì rất khó để sống trung thực.
Khi ta sống trong một môi trường thiếu trung thực thì hoá ra sự trung thực của ta lại biến thành sự bất tuân và đáng bị trừng phạt. Khi cộng đồng hưởng ứng văn hoá 'dối trá', thì kẻ tôn sùng sự thật phải đứng giữa chọn lựa, trung thực với lương tâm hay làm theo cộng đồng.
Nếu ta chọn sống theo lương tâm, thì sự trung thực của ta có thể khiến ta bị đào thải khỏi cộng đồng, cái ta gặt hái được không phải là hạnh phúc hay sự hoàn hảo mà lại lại là sự trừng phạt cho cái bất tuân.
Kẻ yếu hơn thì lo sợ mà im miệng để được yên thân. Vậy nên, trong khi cái sai trong xã hội vẫn còn nhiều, thì sự trung thực của con người lại bị hạ bệ.
Bích Vy
Xã hội Việt Nam ta hiện nay vẫn đánh giá cao vai trò của số đông. Số đông nói đúng nghĩa là đúng. Số đông có thể biến việc làm sai thành đúng. Những kẻ nhỏ mọn dẫu có ý kiến đúng nhưng trái với số đông thì vẫn là sai. Người có bản lĩnh thì lên tiếng phản biện, nhưng lại bị trù dập.
Kẻ yếu hơn thì lo sợ mà im miệng để được yên thân. Vậy nên, trong khi cái sai trong xã hội vẫn còn nhiều, thì sự trung thực của con người lại bị hạ bệ. Rõ ràng, ta chẳng được gì khi sống trung thực cả.
Ta không thích dối trá, nên ta sống trung thực. Ta cũng muốn sự trung thực của ta được công nhận, và sự dối trá bị trừng phạt.
Vì thế, ta cần môi trường xung quanh hưởng ứng lòng trung thực của ta. Ta muốn được nói và phản biện môi trường xung quanh khi ta thấy điều sai trái. Ta muốn tiếng nói lương tâm của ta được bày tỏ.
Vậy cuối cùng, 'sống trung thực, được gì?' Có lẽ câu trả lời sẽ là "để được sự cởi mở của xã hội, để lại được sống trung thực."

Thứ Bảy, 20 tháng 6, 2009

Bia - một phần tất yếu của cuộc sống

Mùa hè, trời oi bức, khiến người ta luôn cảm thấy... hầm hập trong người. Đã thành thói quen, mỗi khi cần giải nhiệt, các đấng mày râu lại tìm đến bia và mùa hè Hà Nội là mùa của... bia.
Một - hai - ba: dzô!
- Oi bức quá, làm vài vại thôi.
- Vẫn 19C nhé!
Chỉ khoảng 10 phút sau, nhóm bia 6 người đã có mặt tại nơi tập kết quen thuộc.
Một ngày bình thường trong tuần, quán bia hơi Hà Nội ấy vẫn đông vui, tới tấp người vào ra. Nhà gửi xe luôn trong tình trạng quá tải, nhiều khách bia chưa kịp lấy về đã vội vàng... lao vào quán. 12 giờ trưa, cái nóng đã lên đến đỉnh điểm, quán bia rộng như một sân bóng đã chật kín người, mấy nhóm khách chưa tìm được chỗ ngồi cứ nháo nhác cả lên. May thay, cậu bạn tôi nhanh chân nên cũng "chiếm" được chiếc bàn nhỏ phía trong cùng của quán.
"Cho 6 bia luôn em nhá"..., vừa lau mặt bằng một chiếc khăn ướt, cậu bạn làm phó phòng của một công ty XNK nói vui: "Kinh tế gặp khó khăn như thế này, chỉ có đi uống bia là nhất". Tốp này đứng, tốp kia ngồi, nói cười, ồn ã với những âm thanh quen thuộc 1, 2, 3... dzô, dzô... Khó hiểu thật, kinh tế toàn cầu khủng hoảng, tiền ai cũng thiếu, ấy vậy mà những "quán bia VIP" như thế này có bao giờ thưa khách đâu? Toàn là khách văn phòng: già, trẻ, sếp, nhân viên... đủ cả, nhưng đã ra đây thì giữa sếp và nhân viên không hề có sự phân biệt, nếu có thì cũng chỉ là sếp uống "đỉnh" hơn nhân viên mà thôi.
Sau 10 phút chờ đợi, lượt bia đầu tiên đã xuất hiện. Em phục vụ trẻ trung, má hồng, ngực đeo biển, miệng cười tươi: "Dạ, em mời các anh dùng bia ạ!". Những chiếc cốc sành sứ dày cộp đầy oặp bia cứ thi nhau sủi bọt. 6 cốc bia còn mát lạnh đã được 6 bàn tay nâng lên, keng, keng... ực ực... hà... mát, ngon... Rồi bia liên tục được đưa ra.
Sau hàng chục lần nâng lên, đặt xuống, mặt ai cũng đỏ gay, đôi mắt lờ đờ như người buồn ngủ... "Rượu vào, lời ra", từ chuyện cơ quan, đến chuyện vợ chồng, từ chuyện quan hệ đồng nghiệp đến chuyện bồ bịch, tán tỉnh lăng nhăng... ai cũng hết lòng "cởi mở".
Một phần tất yếu...
Cuối tuần, tôi được một người bạn, tên H ở Giảng Võ mời đến nhà uống bia, nhân cái sự... "vợ anh đi công tác". Nói cho vui vậy thôi, chứ cuối tuần nào, anh chẳng gọi bạn bè đến nhà nhâm nhi vài cốc cho đỡ buồn. Nhà khá rộng rãi, khang trang, lại chỉ có hai vợ chồng và một đứa con nên anh dành cả 1 tầng làm khu uống trà, uống bia. Trong tủ lạnh anh bày toàn bia chai, bia lon Hà Nội, bởi vậy nên bạn bè đã đặt cho anh biệt danh là "anh chai Hà Nội".
Trăm phần trăm cốc đầu tiên, anh Hùng tâm sự: "Trước đây anh cũng thường la cà quán sá, bù khú bạn bè giải tỏa stress. Nhưng vì bia dạo này bị giả nhiều quá. Mà cái giống bia giả uống vào chỉ có nước đau đầu. Vào quán, nhiều khi mấy cốc đầu là bia xịn, nhưng khi khách ngà ngà rồi, chủ quán cứ tha hồ bê bia rởm ra, uống xong chỉ còn nước ôm đầu". Bởi vậy, giới sành bia dạo này mỗi khi ra quán họ thường chọn một quán bia uy tín uống cho lành. Bia đã trở thành thứ đồ uống quen thuộc như một phần tất yếu của cuộc sống. Trong mọi ngõ ngách, nhà hàng, quán ăn, khu vui chơi giải trí, gia đình... nơi đâu cũng đều hưởng ứng bia.
Còn nhớ, trong ngày hội bia hơi Hà Nội, một sự kiện được tổ chức với quy mô hoàng tráng, đặc sắc của ngành bia Hà Nội, một lãnh đạo của một công ty đã tâm sự rằng: "Bia Hà Nội không phân biệt địa vị, giới tính, quốc tịch, sau những tiếng chạm cốc rộn rã, tiếng hô vang ngất trời, là những nụ cười thân thiện, ấm nồng tình bằng hữu. Bia Hà Nội đã và đang góp phần tăng thêm tình đoàn kết, luôn nỗ lực tạo dựng chữ "tín", mang đến cho khách hàng sản phẩm đạt chất lượng cao"...

Hiện mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam khoảng 18 lít/năm, bằng 1/2 so với mức tiêu thụ của Hàn Quốc và bằng 1/7 so với các nước Ireland, Đức, Séc. Tuy nhiên, với mức thu nhập của người dân tăng lên, cộng với sự thay đổi tập quán uống chuyển rượu thành bia của người dân ở nhiều vùng nông thôn... thì vào năm 2010, mức tiêu thụ bia bình quân đầu người của Việt Nam ước tính sẽ tăng tới 28 lít/năm. Đến năm 2010, tổng sản lượng bia trong nước ước đạt 2,7 tỷ lít, tăng 45% so với năm 2007. Riêng hai đại gia HABECO và SABECO đã có sản lượng khoảng 1,9 tỷ lít/năm, chiếm 60% công suất sản xuất bia cả nước.

Bia - một phần tất yếu của cuộc sống